Bình giảng bài thơ “tao giải” trong nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh

Bình giảng bài thơ “tao giải” trong nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh
Đánh giá bài viết

Đề bài: bình giảng bài thơ “Tao giải” trong nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh

“Nhật ký trong tù” ra đời đã trở thành một hiện tượng văn đặc biệt. Đến nay tập thơ đã được tái bản nhiều lần được dịch ở nhiều nước và phổ biến ở một số nước, nhiều công trình nghiên cứu, phân tích, tiếp cận ở nhiều góc độ và hình thức khác nhau của tác giả trong và ngoài nước nhằm cùng mục đích là để phát hiện cái mới, cái hay, cái độc đáo trong thơ văn của người, là tập thơ bất hủ, mãi mãi sống cùng thời gian. Trong đó bài thơ “ giải đi sớm” là một trong những kiệt tác của văn học Việt Nam nói chung và của tập thơ nói riêng.

Loading...

“Nhất thứ kê đề dạ vi lan

Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san

Chinh nhân dĩ tại chinh đò thượng

Nghênh diện thu phong trận trận hàn

Đông phương bạch sắc dĩ thành hồng

U ám tán dư tảo nhất không

Noãn khí bao la toàn vũ trụ

Hành nhân thi hứng hốt gia nồng”

Để tìm hiểu cái hay, cái độc đáo của bài thơ, ta cùng nhau đi tìm hiểu và phân tích ý nghĩa, bút pháp xây dựng tác phẩm của người.

Bài thơ được người viết vào một đêm cuối tháng 9 năm 1942, đây là thời điểm Bác bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt chuyển từ nhà lao Long An sang Đồng Chinh. Bài thơ gồm hai phần một và hai, là bài thứ 42 và 43 trong tập thơ “nhật kí trong tù”. Cả bài thơ nêu bật lên được quá trình của người bị chuyển lao liên tục với âm mưu không cho người tiếp xúc lâu với cách mạng, với chiến sĩ ở đây, đồng thời để làm nản ý chí của người.

“Nhất thứ kê đề dạ vi lan

Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san”

Hai câu thơ đầu mở ra bằng một không gian và thời gian, đó là một đêm vào mùa thu với tiếng của gà gáy, ánh sáng của trăng trên một ngọn núi và nhìn về con đường xa, một cảnh đêm vắng vẻ, nhưng với Bác điều đó không làm cho người cảm thấy buồn, vì Bác là người yêu thiên nhiên, luôn muốn hào nhập cùng với chúng. Cả bài thơ đó là tâm trạng vui vẻ của người khi bị giải đi sớm cũng không có gì làm người nản lòng, sự cô đơn và lạnh lẽo của con người được thiên nhiên bù đắp vào lỗ hổng đấy.

Câu thơ dần dần trên nên có hồn, khi bác được hòa quyện với thiên nhiên, giữa thời tiết khắc nghiệt của thời tiết giá rét, lạnh buốt nhưng vào ánh sáng của trăng lòng người cảm thấy ấm hơn.

“Người đi cất bước trên đường thẳm,

Loading...

Rát mặt, đêm thu, trận gió hàn.”

Câu thơ 3 và 4 nói về hành trình chuyển lao của nhà thơ, dù gian khổ, vất vả nhưng lúc nào cũng ngẩng cao đầu, chủ động, cố gắng vượt lên hoàn cảnh, không cho phép mình gục ngã, người tìm đến thiên nhiên không phải để trốn tránh mà người muốn tâm phải tĩnh để không bị phân tâm, bị dụ dỗ bởi thế lực thù địch làm người nào lòng được.

Thật ra hai câu thơ này dịch đã bị mất bớt đi nhiều cảm xúc của nguyên tác. Rõ ràng câu chữ Hán “nghênh diện thu phong trận trận hàn” có khí thế mạnh mẽ, dịch là “rát mặt đêm thu trận gió hàn” vừa kém khí thế (“trận trận” cảm giác mạnh hơn hẳn “trận gió”), vừa bị động (“rát mặt” là bị động chịu đựng, “nghênh diện” là chủ động tiếp nhận).

“Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng

Nghênh diện thu phong trận trận hàn”.

Cả bốn câu thơ như dựng lại cuộc giải lao khi còn chưa sáng: chỉ có mỗi tiếng gà gáy, một ánh trăng duy nhất từ chùm sao, ánh trăng dọi xuống và một người tù trên đất khách quê người, không ai quen biết, không ai giúp đỡ, nhưng người chưa bao giờ thấy mình cô dơn, bất hạnh, khốn khổ, bởi mục tiêu mà người hướng tới sẽ còn gặp phải muôn phần gian khổ hơn thế này nhiều, bản lĩnh của một người chiến sĩ được tôi luyện qua hàng chục năm bôn ba và tìm ra con đường giải phóng dân tộc còn gian truân và nguy hiểm hơn như thế này, khó khăn, vất vả chỉ làm cho Bác thêm quyết tâm hơn mà thôi.

Khổ thứ hai của bài thơ lại vẽ ra một bức tranh tuyệt đẹp nơi chân trời rạng đông, ở đây đã khác so với khổ thứ nhất rất nhiều, khác với sự lạnh lẽo của khổ thơ đầu, thì khổ thơ này tràn ngập sức sống ngay câu đầu

“Phương đông màu trắng chuyển sang hồng,

Bóng tối đêm tàn, quét sạch không”.

Từ “màu trắng” của sự u buồn và lạnh lẽo, tác giả chuyển ngay sang “màu hồng” chúng ta thấy được sự mới mẻ và ấm áp, màu hồng của bình minh quét sách bóng tối u ám của ban đêm, màu đen tối tăm đã phải nhường chỗ cho màu hồng tươi mới và ấm áp của đất trời đã chuyển vào tâm trạng của chính con người.

“Hơi ấm bao la trùm vũ trụ,

Người đi, thì hứng bỗng thêm nồng”

Cái sự ấm nóng mà tác giả muốn đề cập ở đây không chỉ có màu hồng của bình minh, của thiên nhiên, đất trời mà màu hồng của con tim luôn hướng vào cách mạng, nguyện hy sinh thân mình để bảo vệ tổ quốc, nhưng bây giờ chưa phải là lúc.

Rõ ràng đây là bài thơ “giải đi sớm” là cuộc chuyền lao vất vả và khắc nghiệt nhưng từ đầu bài đến cuối ta chưa thấy một lời nào than vãn mà ngược lại ta lại thấy một tâm hồn cao quý, yêu thiên nhiên, không ngại gian khổ, dám đứng lên đấu tranh để cứu lấy xã tắc, nước nhà.

Cả bài thơ nói lên ý chí quật cường, hiên ngang, không sợ gian khổ, luôn tin yêu cuộc sống dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, yêu nước không dành cho những kẻ nhút nhát, đê tiện mà là nơi của những người lính, người đồng chí, sẵn sàng hy sinh vì lợi ích chung.