Dàn ý phân tích tâm trạng và những sáng tạo nghệ thuật độc đáo của nhà thơ Huy Cận qua khổ thơ cuối trong bài thơ Tràng giang

Dàn ý phân tích tâm trạng và những sáng tạo nghệ thuật độc đáo của nhà thơ Huy Cận qua khổ thơ cuối trong bài thơ Tràng giang
5 (100%) 480 votes

Dàn ý phân tích tâm trạng và những sáng tạo nghệ thuật độc đáo của nhà thơ Huy Cận qua khổ thơ cuối trong bài thơ Tràng giang

I. Mở bài

Loading...

– Tràng giang là một bài thơ nổi tiếng không chỉ của Huy Cận mà còn của cả phong trào “Thơ mới” (1932 – 1945). Bài thơ gồm bốn khổ thơ, khổ thơ bình giảng là khổ thơ cuối.

Khổ thơ tuy chỉ có bốn dòng nhưng đã khái quát tấm lòng, tình cảm, tư tưởng của nhà thơ cũng như bút pháp nghệ thuật:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cánh nhỏ: bỏng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

II. Thân bài

1. Hai câu đầu

– Tràng giang gợi một nỗi buồn cô đơn, lạc lõng trước cảnh trời nước mênh mông, cao rộng bất tận, nhưng trống trải, hoang vắng, xa lạ, hững hờ và vô định. Toàn cảnh trời rộng sông dài tuyệt nhiên không có một bóng người, không có dấu vết của sự giao lưu thân mật, gần gũi: không một chuyến đò ngang, không một chiếc cầu để gợi chút niềm thân mật, “không một chút ấm áp của sự sống” (Huy Cận).

Hai câu thơ đầu trong khổ thơ cuối khắc họa lại cảnh tượng rực rỡ, kì vĩ khi mặt trời xuống thấp, hắt ánh sáng lên các lớp mây cao cuồn cuộn đùn ra như những núi bạc:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Tác giả rát thích chữ “đùn”, tả mây như có sức đẩy ở bên trong, cứ trồi ra hết lớp này đến lớp khác.

Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.

Ba chữ bóng chiều sa in lên núi bạc đùn lên, còn dáng chim nghiêng cánh nhỏ tương phản với lớp lớp, núi bạc, càng trở nên nhỏ nhoi, cô độc.

Loading...

Hai câu thơ đẹp trong hình ảnh và linh hoạt trong nhịp bước của thời gian. Không gian vừa mới vươn trải mênh mông trong dáng dấp ngàn mây lớp lớp chất chồng, chợt ập xuống hoàng hôn.

2. Hai câu sau

Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

là nỗi khao khát của con người tìm về quê nhà. Lòng quê, có người hiểu là lòng riêng, tấm lòng mộc mạc, nhưng cũng nhiều người hiểu là lòng nhớ quê hương, do dịch từ chữ “hương tâm”, đặt vào đây cũng hợp. Thực vậy, dợn là hình ảnh mặt nước chuyển động nhỏ, lên xuống rất nhẹ khi bị xao động. Ở câu thơ này, lòng nhớ quê hương bỗng dợn lên như sóng tâm hồn, khi phóng tầm mắt nhìn (vời trông) ra con nước mênh mông, nhưng không phải chi dợn lên một lần rồi thôi, mà là dợn dợn nghĩa là xao động liên tục.

Lòng nhớ quê hương cứ xao động trong tâm hồn trước cảnh sóng nước hoang vắng đìu hiu, trống trải và nhà thơ kết thúc:

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

– Âm hưởng thư Đường triền miên trong câu cuối, như niềm lưu luyến nhớ quê của Thôi Hiệu trong bài Hoàng Hạc lâu: “Nhật mộ hương quan hà xứ thị? Yên ba giang thượng sử nhân sầu” (Tản Đà dịch: Quê hương khuất bóng hoàng hôn – Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai) Nhà thơ đời Đường có “khói sóng” trên sông mới gợi niềm thương nhớ quê nhà, còn Huy Cận thì chẳng cần ngoại canh mà vẫn đỉ khơi dòng nhớ mong. Lúc này cái buồn đã tương đối thành hình, không chỉ còn là cảm giác sầu mênh mông vời vợi do xúc cảnh sinh tình khi ngắm nước trường giang.

Hai câu kết đã mở ra những tình cảm đẹp và làm ta nhớ đến những lời thơ: “Đạm đạm trường giang thủy – Du du viễn khách tình” (Nước Trường giang lặng lẽ – Tình viễn khách triền miên) (Vi Thừa Khánh – Nam hành biệt đệ).

III. Kết bài

Tràng giang được viết bằng lối thơ bảy chữ, niêm vẫn chặt chẽ như thơ Đường luật, dồi dào nhạc điệu, ngôn từ hàm súc tinh vi. Bao nhiêu năm đi qua mà vẻ đẹp và nỗi buồn của Tràng -giang, đặc biệt là khổ thơ cuối của bài vẫn gây ấn tượng sâu sắc cho người đọc. Lời thơ mãi mãi thức tỉnh lòng hướng về quê hương và tình người ấm áp của mỗi chúng ta.