Phân tích bài thơ Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm

Phân tích bài thơ Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm
Đánh giá bài viết

Phân tích bài thơ Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm

Hướng dẫn

Loading...

Trong bài thơ Bên kia sông Đuống, tác giả như đã vẽ nên cho người đọc thấy một thế giới Kinh Bắc với truyền thống văn hóa từ lâu đời với một vẻ đẹp cổ kính. Dưới đây là bài phân tích bài thơ của một bạn học sinh lớp 12 trường THPT huyện Giao Thủy, Nam Định.

Mở bài: Giới thiệu về bài thơ Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm

Thi sĩ Hoàng cầm tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh năm 1922 trong một gia đình Nho giáo ở thôn Lạc Thổ, xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ông có năng khiếu thơ ca và bắt đầu sáng tác từ năm 14 tuổi. Quê hương Kinh Bắc cổ kính với truyền thống văn hóa nghệ thuật lâu đời và phong phú, tiêu biểu là dân ca quan họ, chắc chắn có tác động rất lớn tới tâm hồn giàu cảm xúc của nhà thơ.

Thân bài: Phân tích bài thơ Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm

Bên kia sống Đuống in trong tập thơ cùng tên xuất bản năm 1956. Tác giả kể về trận giặc Pháp đánh chiếm phía Nam tỉnh Bắc Ninh trong khi ông đang công tác ở chiến khu Việt Bắc. Một đêm tháng tư năm 1948, nghe tin quê hương bị giặc tàn phá, nhà thơ vô cùng xúc động đã sáng tác nên bài thơ này và nó nhanh chóng được lưu truyền rộng rãi trong cán bộ, chiến sĩ ta. Sống Đuống là con sống nối liền sống Hồng và sống Lục Đầu tức sống Thái Bình. Bờ Nam sống là quê hương tác giả. Bờ Bắc là vùng tự do của kháng chiến.

Bài thơ khá dài, gồm hai phần lớn: Phần thứ nhất nói về quê hương nhà thơ bên kia sông Đuống đang bị giặc giày xéo; phần thứ hai kể chuyện bộ đội trở về cùng nhân dân đánh giặc giải phóng quê hương.

Bằng cách miêu tả cuộc sống thanh bình của quê hương giờ đây đang bị quân xâm lược hung tàn giày xéo tan hoang, nhà thơ bộc lộ nỗi đau quặn thắt của trái tim, sâu xa hơn là bày tỏ tình cảm yêu mến tha thiết đối với quê hương, đất nước và dân tộc.

Mở đầu là vẻ đẹp thơ mộng của con sống Đuống với cái dáng nghiêng nghiêng mềm mại, với cát trắng phẳng lì, một dòng lấp lánh, xanh xanh bãi mía bờ dâu, ngô khoai biêng biếc. Đó là hình ảnh của cuộc sống thanh bình, no ấm. Vậy mà giờ đây, tất cả đã bị xáo trộn phũ phàng. Đứng bên này sông (tức là bờ Bắc), tác giả nhớ tiếc vì không thể về bên kia được, bởi bên kia đã bị giặc chiếm rồi. Nỗi buồn thấm đẫm tâm trạng nhà thơ, người con đang xa quê hương. Nhưng cớ sao mà nhà thơ buồn đến mức xót xa như rụng bàn tay?

Ở câu thơ thứ nhất: Em ơi buồn làm chi; nhân vật Em là ai? Có thể là người thương hoặc có khi là chính bản thân nhà thơ. Nó là âm thanh chủ đạo tạo ra âm hưởng tha thiết chung của toàn bài ; đau thương mà vẫn dịu nhẹ, thấm sâu. Kể cả hình ảnh so sánh khá táo bạo: xót xa như rụng bàn tay, nghe đau đớn thấu ruột gan nhưng vẫn là nỗi đau cố nén vào trong.

Bắc Ninh thuộc vùng Kinh Bắc xưa là vùng đất có bề dày lịch sử rất đáng tự hào: có mộ Kinh Dương Vương ở Thuận Thành; là địa bàn đánh giặc Ân của Thánh Gióng. Hai Bà Trưng cũng chiến đấu chống quân Nam Hán ở đấy. Lí Thường Kiệt đánh đuổi quân Tống ở sông Như Nguyệt tức sông cầu.

Chiến dịch xương Giang của Lê Lợi – Nguyễn Trãi cũng diễn ra trên mảnh đất này… Về văn học, truyện cổ Tấm Cám có nguồn gốc từ đó. Tranh dân gian Đông Hồ nổi tiếng khắp nơi. Về kiến trúc và điêu khắc thì chùa Bút Tháp có pho tượng Phật Bà nghìn mắt nghìn tay. Con người Kinh Bắc nổi tiếng là tài giỏi, thanh lịch: Trai Cầu vồng, Yên Thế; gái Nội Duệ, cầu Lim. Bắc Ninh là cái nôi của dân ca quan họ ngọt ngào làm mê đắm lòng người.

Cuộc sống êm đềm đang diễn ra bình thường như quy luật ngày lên đêm xuống. Bên kia sống Đuống là quê anh, làng Lạc Thổ, làng Đông Hồ. Ai đặt cho làng cái tên hay như thế? Lạc Thổ là đất vui, là cảnh Niết Bàn của Phật. Đông Hồ đem lại niềm vui tỉnh thần cho cả tỉnh, cả nước với nghề làm tranh Tết. Các nghệ nhân tài hoa xưa đã sáng tạo ra những bức tranh có nội dung vui tươi, màu sắc đậm đà, nét vẽ lại mộc mạc, chân chất. Tranh nào tranh nấy như những lời chúc mừng năm mới tốt đẹp. Từ con người đến loài vật đều vui với xuân, đều nảy nở, sinh sôi. Gà đàn, Lợn ổ, Lợn âm dương, Đám cưới chuột, Hứng dừa, Thầy đồ Cóc… Từ làng Đông Hồ, tranh tỏa đi khắp nơi. Chợ Tết rực rỡ màu tranh xanh đỏ tím vàng loang loáng, lấp lánh trên nền giấy điệp (giấy quét một lớp bột vỏ sò gọi là điệp pha với keo), đưa tới mọi nhà niềm vui và niềm tin năm mới làm ăn phát đạt. Tranh Đông Hồ có vẻ đẹp dân dã, thanh tao mà ý nghĩa ấm áp biết bao nhiêu!

Bỗng dưng lũ xâm lăng ùn ùn kéo đến như đám cháy ngùn ngụt lừa hang tàn. Nhà thơ miêu tả chúng bằng những dòng thơ đẩy căm hận và khinh bỉ, ví chúng chẳng khác gì chó ngộ một đàn, lưỡi dài lê sắc máu; tàn phá đến kiệt cùng ngõ thẳm, bờ hoang. Hỏi có cái gì còn nguyên vẹn khi ruộng khô, nhà cháy?

Sông Đuống là quê hương anh, quê hương em, quê hương của chúng ta. Cuộc sống yên lành, tươi đẹp từ cỏ cây, sống nước đến tấm lòng nhân hậu của con người, vẻ đẹp phong phú ấy thể hiện ở lúa nếp thơm nồng, ở tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong, Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã… nhưng quân xâm lược dã man đã đốt phá tan hoang. Cảnh vật, con người của quê hương giờ đây tan tác, chia hai, không biết về đâu?

Nào chỉ có đau đớn về vật chất? Quân giặc đốt phá, giết chóc khiến quê hương tơi bời trong lửa đạn ; nhưng đó mới chỉ là những vết thương trước mắt. Còn điều sâu xa hơn là những bức tranh vẽ đàn lợn âm dương, đám cưới chuột kia chứa đựng ý nghĩa về nguồn gốc sự sống trong quan niệm bình dị mà sâu sắc của cha ông cũng bị giặc hủy diệt. Đó là hủy diệt sự sống. Hỏi còn tội ác nào lớn hơn thế nữa?!

Lời thơ, ý thơ đau đớn mà âm điệu đoạn thơ cũng xót xa kéo dài vô tận. Quê hương ta chứa đựng cuộc đời của ông bà, cha mẹ, chứa đựng cuộc đời ta. Nhưng nó lại ở bên kia sông Đuống, nằm trong vùng địch tạm chiếm nên trở thành xa xôi. Cả thời gian lẫn không gian đều mờ mịt khiến nỗi xót xa trở thành nỗi đau tột cùng: xót xa như rụng bàn tay. Giặc tràn tới, bây giờ không biết mọi cái đã về đâu? Âm điệu của hai chữ về đâu nghe như một tiếng trời ơi vút lên giữa thinh không, vô vọng!

Quê hương sông Đuống còn một nét văn hóa nữa cũng nổi tiếng cả nước như tranh làng Hồ ; đó là hội hè mùa xuân. Hội xuân có bao vẻ đẹp, vẻ hay. Hội hè là nơi mọi người vui chung niềm vui mùa màng tốt tươi năm trước, cầu mong năm nay càng tốt tưới hơn. Hội hè là nơi mọi người vui với sức mạnh, tài ba của Trai cầu vồng, Yên Thế, gái Nội Duệ, cầu Lim, vui câu hát điệu hò của liền anh liền chị, vui gặp gỡ gái trai… Núi Thiên Thái, chùa Bút Tháp và bao nhiêu nơi khác khắp miền quê sống Đuống mùa xuân đều có hội. Hội hè đã trở thành mơ ước của mọi lứa tuổi mỗi độ xuân về, đã thành nếp trong óc trong tim mọi người như một thứ mộng bình yên, trải mấy trăm năm. Nhưng nay dẫu đang là mùa xuân mà không ai còn lòng dạ nào mở hội. Có thể chuông chùa còn văng vẳng nhưng những người đi dự hội xuân năm ngoái lên núi, vào chùa, sang sống với con đò đưa các liền anh, liền chị… những cô môi cắn chỉ quết trầu, những cụ già phơ phơ tóc trắng, những em sột soạt quần nâu… bây giờ ở đái?! Nhà thơ băn khoăn, ao ước: Ai về bên kia sống Đuống, Cho ta gửi tấm the đen. Quê ta có nghề trồng dâu nuôi tằm và dệt lụa. Ta gửi về cho mẹ, cho em tấm the đen để may áo tứ thân đi dự hội cho vời bớt lo toan suốt một năm, một đời. Nhưng bóng mẹ, bóng em nay ở đâu? Nỗi lo lắng, khắc khoải thấm đẫm trong từng câu, từng chữ.

Đoạn thơ nêu lên một nét sinh hoạt văn hóa lâu đời của quê hương Kinh Bắc là hội xuân. Bắt đầu bằng âm hưởng nhớ thương da diết với ai về và cho ta – những mô típ quen thuộc trong ca dao, dân ca; cuối cùng là: Gửi về may áo cho ai cũng vẫn bằng giọng điệu thân thương. Tội nghiệp thay Tấm the đen không người nhận, phơ phất giữa cõi trống không, chẳng biết về đâu?

Loading...

Một biểu hiện khác nữa của cuộc sống văn hóa ở quê hương nhà thơ là những cảnh sinh hoạt dân dã với những con người quen thuộc: Những cô hàng xén răng đen, Cười như mùa thu tỏa nắng, những phiên chợ Hồ, chợ Sui người đua chen, Bãi Trầm Chỉ người giăng tơ nghẽn lối, Những nàng dệt sợi, Đi bán lụa màu, Những người thợ nhuộm, Đồng Tỉnh, Huê cầu… Làm ăn vất vả, tất bật, hay lam hay làm… đều là những vẻ đẹp có từ thuở xưa. Ông cha truyền lại cho con cháu những nghề tinh khéo, truyền lại luôn cả cái phong tục mắc cửi giăng tơ ngang đường, ai đi qua phải giải cho được câu đố hay câu hát mới được qua, không thì chỉ tơ không buộc mà cứ vương. Truyền cái nghề pha màu chọn nắng, chiều người mà nhuộm cho vừa mắt vừa lòng các cô, các chị. Thợ nhuộm Đồng Tỉnh, Huê cầu đi đâu cũng để lại những tấm áo, những thắt lưng, những chéo yếm bền màu, đẹp sắc và để luôn lại những nỗi nhớ niềm thương: Ai về Đồng Tỉnh, Huê cầu, Để thương để nhớ để sầu cho ai?!

Có ai về bên kia sống Đuống không em? Còn chăng những chị, những em tuy quanh năm phải tảo tần phụng dưỡng mẹ cha, lo cho chồng con mà vẫn góp phần làm cho cuộc đời tươi sen và cười nắng. Đẹp và duyên biết chừng nào! Thế mà giờ đây, những người chị, người em ấy của quê hương đã tan tác đi đâu, về đâu? Âm điệu đoạn thơ mỗi lúc một nghẹn ngào, chới với.

Ba đoạn thơ cùng thể hiện một nỗi đau xót chung trước cuộc sống của quê hương đang bị lũ giặc hung ác giày xéo tan tành. Bên kia sống Đuống, bên này sống Đuống, vốn hai bờ, một sông nay chỉ còn một bờ, một nửa. Một nửa sống, một nửa con người! Đau xót như chết nửa con người chứ không phải chỉ như rụng bàn tay, Những ai có quê hương, làng mạc bị giặc chiếm đóng mà không thể ghé về thăm được, đứng bên này sông nhìn qua vùng giặc tạm chiếm, đều không khỏi xót xa, đau đớn và căm giận lũ cướp nước bạo tàn, đồng thời thông cảm với tâm trạng nhà thơ. Bao nhiêu thiết tha, trìu mến trong những chữ quê hương ta, ai về, cho ta gửi tấm the đen, gửi về may áo cho ai, ai về… có nhớ… Tưởng như ai về là về giùm cho ta, mang hộ tấm lòng da diết nhớ của ta cùng về.

Ba đoạn thơ không chỉ là nỗi đau quặn thắt riêng cho một người mà còn là nỗi đau chung cho cả quê hương phía bên kia sông Đuống với chiều sâu lịch sử mấy nghìn năm, với truyền thống văn hóa vật chất, tinh thần tiếng tăm lừng lẫy, nay đang bị giặc giày xéo, hủy diệt. Tranh Đông Hồ không chỉ đem lại vẻ vang cho riêng Đông Hồ mà cho cả đất Kinh Bắc tài ba, thanh lịch từ giọng hát đến cái hoa tay… Bao nhiêu tên đất, tên chợ, tên núi, tên chùa, tên nghề, tên thợ… đều gợi lên một bức tranh thu nhỏ của đời sống phong phú và đẹp đẽ của cả một địa phường. Đó là tình cảm thiết tha của em, của anh, của chúng ta đối với quê hương.

Các đoạn thơ trên còn có một lớp nghĩa thứ ba: đó là nỗi đau chung cho cả đất nước, dân tộc mà quê hương của tác giả là tiêu biểu. Trước hết, về mặt truyền thống văn hóa nghệ thuật và truyền thống trăm nghề sinh nhai đáp ứng nhụ cầu đời sống mọi người. Tranh Đông Hồ không còn là của riêng đất Kinh Bắc. Chùa Bút Tháp với tượng Phật Bà nghìn mắt nghìn tay cũng là di sản và niềm tự hào của cả dân tộc. Hội hè thấp thoáng mộng bình yên cũng là mộng bình yên của cả dân tộc. Thậm chí, những nàng môi cắn chỉ quết trầu, những em sột soạt quần nâu, từng khuôn mặt búp sen, những cô hàng xén răng đen, cười như mùa thu tỏa nắng… đều là những hình ảnh gợi nhớ không phải một địa phương mà cả nước một thời. Tình yêu quê hương tha thiết của nhà thơ khiến cho người đọc rưng rưng xúc động.

Tác giả nhớ tiếc, xót xa không chỉ cho quê hương mình mà cho cả dân tộc và đất nước. Quân xâm lược dã man đã giày xéo lên những điều thiêng liêng nhất đối với tâm hồn ta. Cảm xúc đau thương kéo dài trong âm hưởng của những câu hỏi đi đâu, về đâu khắc khoải:

Trên kia là quê hương dưới dạng văn hóa, còn đây là quê hương ở cảnh đời thường. Đời thường ấy cô đọng lại trong hình ảnh mẹ già với gánh hàng rong trên vai. Đời thường ấy nghèo khổ, cực nhọc vô vàn nhưng chính cái cực nhọc vô vàn ấy của mẹ ta đã nuôi chồng ăn học, nuôi con khôn lớn nên người; nuôi sống cả một dân tộc trải mấy nghìn năm đề xây dựng nên non sống, đất nước này. Cuộc sống lao động cần cù, thầm lặng ấy đến nay hãy còn đè nặng trên tấm lưng còm cõi của mẹ ta. Ôi, gánh hàng rong có nhiều nhặn gì đâu: Dăm miếng cau khô, Mấy lọ phẩm hồng, Vài thếp giấy đầm hoen sương sớm và mấy cây kim, cuộn chỉ… Tiền lãi cũng chỉ nhỏ nhoi, ít ỏi như đồng kẽm, đồng xu. Ngày ngày, mẹ ta lại gánh hàng rong lên vai, bước cao, bước thấp trên đường trơn mưa lạnh. Chưa bán được đồng nào, bụng đói, dạ sầu. Mái đầu đã bạc nay càng bạc phơ. Vậy mà lũ giặc cũng chẳng buông tha. Chúng kéo đến cướp bóc, đập phá, bắn giết… Cuộc sống của mẹ và của bao người như mẹ rơi rụng như lá đa lác đác trước lều mùa đông.

Có con cò trắng bay vùn vụt, Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu? Nó làm bạn với mẹ ta chăng? Nó là hóa thân của mẹ ta chăng? Con cò cũng hoảng hốt không biết về đâu. Mẹ ta đang bấm chân trên đường trơn mưa lạnh cũng không biết về đâu. Con cò ấy với mẹ ta bao đời nay đã là hai hình ảnh gần gũi, sóng đôi. Thân phận người phụ nữ xưa nay là vậy, giống như: Con cò lặn lội bờ sống, Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non… Suốt đời chỉ lo toan làm lụng và chịu đựng đau khổ. Mẹ già còm cõi khốn khó suốt một đời, nay gặp cảnh giặc giã lại càng thêm khốn khó. Cái gánh nặng trên vai mẹ kia chính là cái gánh giang sơn nhà chồng, là gánh nước non của muôn kiếp mẹ già!

Đoạn thơ viết theo lối phá thể, năm ba câu ngắn loang loáng, vun vút rồi bất chợt buông xuống một câu lục bát chảy dài như tiếng thở than, như dòng nước mắt không gì ngăn nổi: Xì xồ cướp bóc, Tan phiên chợ nghèo, Lá đa lác đác trước lều, Vài ba vết máu loang chiều mùa đông, Chưa bán được một đồng, Mẹ già lại quẩy gánh hàng rong… Mẹ ta lòng đói dạ sầu, Đường trơn mưa lánh mái đầu bạc phơ.

Tiếp theo, nhà thơ miêu tả một cảnh đời thường khác: hình ảnh của đàn con thơ dại. Nghĩ về bên kia sống Đuống, lòng, ta quặn đau vì mẹ già khốn khổ và xót xa cho các con ta đang tranh nhau miếng cơm độn sắn khô; nghe tiếng súng nổ thì vội líu ríu chui gầm giường tránh đạn. Ú ớ giật mình vì Bóng giặc giày vò những nét môi xinh ngay cả trong giấc ngủ. Tội ác của giặc quả là trời không dung, đất không tha!

Trên quê hương bị giặc chiếm, mẹ già nào mà không phải là mẹ già ta? Em nào, con nào mà không phải là em ta, con ta? Đạo lí làm người của dân tộc Việt Nam là vậy. Câu ca dao: Nhiễu điều phủ lấy giá gương, Người trong một nước thì thương nhau cùng đã thấm sâu vào cốt tủy của người dân đất Việt từ thuở xa xưa.

Hai câu thơ: Đã có đất này chép tội, Chúng ta không biết nguôi hờn phảng phất lời kết tội của Đại cáo bình Ngô – áng thiên cổ hùng văn của ông cha ta thuở trước.

Mở bài: Bài văn Phân tích bài thơ Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm

Bài thơ Bên kia sông Đuống được phổ biến nhanh chóng, rộng rãi trong thời kì chống Pháp. Cái độc đáo của nó chính là giọng điệu nghĩa tình thắm thiết thấm sâu vào lòng người. Tuy nói về một địa phương nhưng sắc thái cảnh vật, con người, văn hóa, đạo đức đều là của chung cả nước, miền nào có giặc mà không phải chịu những tình cảnh đau thương như ở bài thơ này. Huống chi bài thơ đã vẽ ra cái thế bên này và bên kia sống, tức cái thế con người chỉ sống có một nửa, còn nửa kia là mất mát, tan tác, căm hờn. Trước mắt chỉ biết cắn răng chịu đựng chứ chưa hành động được. Nhưng đau thương đã tới độ nhức nhối như thế này, ân tình sâu nặng như thế này thì khi có thời cơ là đánh giặc đến cùng. Tính cách của con người Việt Nam ta vốn hiền lành hết mực nhưng cũng biết căm thù sục sôi và chiến đấu quên mình. Bên kia sống Đuống là một bài thơ hay, có sức sống lâu dài, khẳng định tài năng và tên tuổi Hoàng cầm trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại.

Từ khóa tìm kiếm:

Phân tích bài thơ bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm

Phân tích bài thơ bên kia sông đuống

Phan tich bai tho ben kia song duong cua hoang cam

Bài thơ bên kia sông Đuống của hoàng cầm

Cảm nhận về bài thơ bên kia sông Đuống

Phan tich bai tho ben kia song duong ngu van 12

Theo Vanmauphothong.com