Phân tích bài thơ “Điểu Minh Giản”

Phân tích bài thơ “Điểu Minh Giản”
Đánh giá bài viết

Đề bài: Anh chị hãy phân tích bài thơ “Điểu Minh Giản”

Vương Duy (701-761) tự Ma Cật, là nhà thơ tài hoa, ông còn là một họa sĩ thời Đường. Ông để lại cho đời hàng trăm bài thơ hay và đặc sắc khác nhau. Thơ ông viết chủ yếu là nói về hình tượng của con người thanh cao, nhàn nhã, cảnh sắc thiên nhiên yên tĩnh, trong sáng mê hoặc lòng người. Đó chính là sự thể hiện màu sắc thanh tịnh vô vi, nhàn tâm của người theo Đạo Phật. Khi đọc thơ Vương Duy thì Tô Thức đã nhận xét như thế này: “ Vi Ma Cật chi thị, thi trung hữu thi” (thưởng thức thơ Ma cật, trong thơ có họa, xem họa Ma Cật thấy trong họa có thơ ). Thế giới thơ của Vương Duy kết hợp hài hòa giữa thơ và họa, giữa Phật giáo và Lão giáo, là sự dung hợp nhuần nhiễn giữa Thiền- Thơ. Tiêu biểu có tác phẩm “Điểu minh giản” là một bài thơ mộc mạc, giản dị nhưng chứa nhiều ý vị thâm trầm của Thiền học.

Loading...

Bài thơ được làm theo thể ngũ ngôn tứ tuyệt, chỉ vẻn vẹn hai mươi chữ nhưng ý nghãi của bài thơ không hạn định khuôn viên câu chữ của nó, vì tác giả là một nhà thơ thiền nên chất thơ rất đỗi nhẹ nhàng sâu lắng dễ đi vào lòng người.

Tác giả là một họa sĩ xuất sắc lại làm thơ rất hay thế nên trong những tác phẩm của mình, bài thơ “Điểu minh giản” là một bức tranh phong cảnh tuyệt đẹp nhuốm tình người:

“Nhân nhàn hoa quế lạc,

Dạ tĩnh xuân sơn không.

Nguyệt xuất kinh sơn điều,

Thời minh tại giản trung”

Dịch thơ:

“Người nhàn hoa quế nhẹ rơi,

Đêm xuân lặng ngắt trái đồi vắng tanh.

Trăng lên, chim núi giật mình

Tiếng kêu thủng thẳng đưa quanh khe đồi.”

Qua bản dịch của Ngô Tất Tố chúng ta đã thấy được vẻ đẹp của bức tranh về đêm của mùa xuân có cả âm thanh của những loài vật. Thơ thể hiện tư tưởng Phật giáo nhưng nó vẫn có cái đặc sắc cho riêng mình. Thiền là sự tĩnh lặng, sâu lắng để tâm hồn siêu thoát, nhẹ nhõm thoát khỏi cái trần tục vào cõi riêng của tuệ giác; ngược lại thơ thuộc về thế giới tâm tưởng chủ quan của thi sĩ, là “lời nói trong” (chữ dùng của Chu Hy) của chính nhà thơ. Thiền và thơ nằm trong cái thế giới siêu hình, nó không có thật, giải thoát con người ra khỏi vô minh. Chính vì thế, có người ở thời Đường khi lí giải về thơ đã kết luận rằng: “Thi thị khả giảng bất khả giảng chi nan” (thơ có cái giảng được có cái không thể giảng được). Thơ đôi khi là như vậy có những thứ chỉ có thể hiểu trong lòng chứ không thể giải thích được, nó trở thành vô ngôn, nhưng có thể tĩnh tâm và cảm nhận được, thấu hiểu được thì lúc đó, Thiền và Thơ gọi là Ngộ và Nhận. Trong bài thơ “Điểu minh giản” ta thấy được tất cả các cảnh vật được thu vào bên trong. Những hình ảnh xuất hiện trong bài thơ như: “hoa quế”, “ánh trăng”, núi non”, “khe suối”, “chim kêu”,.. là những hình ảnh rất đỗi quen thuộc trong thơ ca phương Đông nhưng ở bài thơ này lại có sức ám gợi lạ thường, xâu xa. Bài thơ tạo cảm giác tĩnh lặng, thanh nhã, bình đạm. Thế giới nghệ thuật của nó là một phức hợp cộng hưởng, giao hòa giữa: người và cảnh, âm thanh và ánh sáng, thính giác thị giác khứu giác và xúc giác, không gian và thời gian.Trong bài thơ “Nguyệt” của Trần Nhân Tông ta cũng thấy có sự giao hòa này:

Loading...

“Bán song đăng ảnh mãn sàng thư

Lộ trích thu đình dạ khí hư

Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ

Mộc Tê hoa thượng nguyệt lai sơ

Dịch thơ:

“Đèn soi nửa cửa, sách đầy gường

Đêm vắng sân thu lác đác sương

Thức dậy đâu đây chày đập vải

Trên bông hoa Quế, ánh trăng non”.

Chúng ta thấy ở đây, thiên nhân địa cùng hợp nhất. Mọi vật đều có linh hồn, cảnh vật hiện lên trong tứ thơ trong bài “Điểu minh giản” ảnh hưởng của tư tưởng thiền có có không không, hết sức sáng tạo sâu đậm, đã tạo nên một thế giới linh hoạt, huyền ảo, yên tĩnh, vắng lặng đến nhiệm màu mặc dù có những âm thanh động vật của buổi đêm. Tác giả mượn cảnh sơn thủy hữu tình để truyền tải đến độc giả một cảnh giới “thong dong tự tại, tĩnh lặng trong lành” có nguồn gốc rễ từ trong tâm.

Đó là bức tranh tâm cảnh, Đỗ Phủ trong bài thơ Giải muộn cũng từng gọi Vương Duy là cao nhân Vương Hữu Thừa. Hai câu thơ đầu tiên thể hiện hình ảnh con người sống trong cảnh nhàn hạ:

“Nhân nhàn hoa quê lạc

Dạ tĩnh xuân sơn không”

(Người nhàn hoa quế nhẹ rơi

Đêm xuân lặng ngắt trái đồi vắng tanh)

Người nhàn đó là cuộc sống của người ẩn sĩ nơi điền viên sơn thủy để hòa mình, giao với thiên nhiên. Lại Quang Nam từng nói: “ Người nhàn là một danh từ song lập, là một trong đạo ở ẩn, từ dùng để chỉ lớp người đã gác mọi ràng buộc phiền não của xã hội đương thời, đi tìm sự yên tĩnh trong tâm hồn”. Có sự giao hòa rất tự nhiên giữa người và cảnh vật. Trong đêm khuya tĩnh lặng, thi nhân đã nghe được cả tiếng hoa quế rơi rất nhẹ. Hoa quế là một loài hoa có màu trắng tinh khiết đẹp, có hương thơm và rất nhỏ, nên khi nó rơi sẽ rất khẽ. Ấy vậy mà người nhàn có thể nghe được. Ta bắt gặp tiếng rơi khẽ đó trong thơ của Trần Đăng Khoa:

“Ngoài thềm rơi chiếc lá đa

Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng”

Tâm hồn của nhà thơ thật thanh tịnh, nó tĩnh lặng đến nỗi nghe được cả tiếng hoa quế rơi. Lắng nghe được âm thanh đó, không phải chỉ là cảnh đêm mùa xuân nới đây yên tĩnh mà là trong tâm hồn của nhà thơ cũng đang yên tĩnh như cảnh đêm mùa xuân vậy.

Hai câu thơ cuối ta thấy có sự chuyển dịch không gian, từ không gian yên tĩnh nghe được cả tiếng hoa quế rơi thì sang đến câu thứ 3, thứ 4 dường như đã khác, có âm thanh của tiếng chim buổi đêm:

“Nguyệt xuất kinh sơn điểu,

Thời minh tại giản trung”.

(Trăng lên, chim núi giật mình,

Tiếng kêu thủng thẳng đưa quanh khe đồi)

Không chỉ có âm thanh mà còn có sự xuất hiện của ánh sáng-ánh trăng, những âm thanh và ánh sáng càng tô đậm thêm cho vẻ tĩnh lặng của cảnh vật. Ánh trăng không chỉ làm cho chim núi giật mình mà còn làm cho tác giả chợt giật mình trước cảnh vật thay đổi. Nghệ thuật: lấy động tả tĩnh thật tài tình (tiếng chim kêu để đặc tả cái vằng vặc, êm đềm của đêm mùa xuân; lấy sáng để tả tối ( ánh trăng sáng để làm cho cái khe đồi càng sâu hút, u tối.

Chỉ qua vài nét chấm phá mà Vương Duy đã làm cho người đọc thấy được tâm nhàn, mộng đẹp, cảnh hữu tình nên thơ. “Điểu minh giản” là một bài thơ tuyệt tác của tác giả. Qua bài này ta còn khẳng định nhà thơ chính là một người họa sĩ tài hoa “trong thơ có họa, trong họa có thơ, thấy được cái sự kết hợp tài tình của hai yếu tố này thành một tác phẩm có sức hấp dẫn lòng người.