Phân tích bài thơ “Hầu trời” của Tản Đà

Phân tích bài thơ “Hầu trời” của Tản Đà
Đánh giá bài viết

Đề bài: phân tích bài thơ “Hầu trời” của Tản Đà

Tản Đà là một nhà thơ kiệt xuất thuộc thế kỉ cuối cùng của nề Hán học Việt Nam. Mặc dù vậy Tản Đà được xem là gạch nối của thơ ca nước ta giữa hai thế kỉ. Tuy xuất thân từ nề nếp nho phong cũ nhưng ông lại có tâm hồn lãng mạn, sáng tạo ra những câu thơ mà ta thấy nó không xa lạ lắm so với nền thơ ca hiện đại, nền thơ mới, cả về thể điệu, hình ảnh, ngôn ngữ và nhất là tâm tình. Ta có thể hiểu thêm về thơ và những đóng góp của ông cho văn học Việt Nam qua bài thơ “hầu trời” bài thơ thể hiện cái tôi cá nhân của chính tác giả.

Loading...

Cả bài thơ đó là một câu chuyện được lồng vào thơ, qua đó chi chúng ta thấy được tác giả là một người có tính cách táo báo, hơi ngông, biểu hiện ngay ở nhan đề bài thơ “hầu trời”. Trong bài thơ, Tản Đà thể hiện cái tôi cá nhân, cái tôi lãng mạn và đó cũng chính là khía cạnh tâm hồn của ông, một cái tôi “ngông” đó chính là tính cách của nhà thơ.

Như chúng ta đã biết thơ chính là người, bài thơ là một giấc mộng trong rất nhiều giấc mộng của Tản Đà, giấc mộng lên trời được đọc thơ cho trời nghe và đằng sau giấc mộng đó là con người Tản Đà, tâm hồn Tản Đà và cá tính của ông.

Để làm rõ được cái hay, cái đẹp của bài thơ, chúng ta cùng nhau tìm hiểu về cái tôi của nhà thơ và đặc sắc nghệ thuật được thể hiện trong thơ của ông.

Sự hiện diện của cái tôi lãng mạn được thể hiện ngay từ giấc mộng được lên trời đọc thơ, giới thiệu thơ văn của mình cho các tri tiên và trời nghe. Qua đó thể hiện sự khát vọng muốn được thể hiện mình, thể hiện tài năng, hơn thế nữa, tác phẩm của ông không bị trời phạt mà được mọi người khen ngợi hết lời. Điều đó nói lên rằng, trời biết xem trọng tài năng, gia trị thơ ca:

“Đêm qua chẳng biết có hay không,

Chẳng phải hoảng hốt, không mơ mòng.

Thật hồn! Thật phách! Thật thân thế!

Thật được lên tiên – sướng lạ lùng.

 

Nguyên lúc canh ba nằm một mình,

Vắt chân dưới bóng ngọn đèn xanh.

Nằm buồn, ngồi dậy đun nước uống,

Uống xong ấm nước, nằm ngâm văn.

 

Chơi văn ngâm chán lại chơi trăng

Ra sân cùng bóng đi tung tăng

Trên trời bỗng thấy hai cô xuống

Miệng cười tủm tỉm cùng nói rằng:

– “Trời nghe hạ giới ai ngâm nga,

Tiếng ngâm vang cả sông Ngân Hà!

Làm Trời mất ngủ, Trời đương mắng

Có hay lên đọc, Trời nghe qua”.”

Rồi thì ông được trư tiên và trời khen ngợi làm ông càng hào hứng để đọc, lúc đầu ông cứ nghĩ lên đọc để mình có dịp thể hiện tài năng cho trời biết, nhưng rồi không ngờ mọi người lại thích và đồng tình:

“Đọc hết văn vần lại văn xuôi

Hết văn thuyết lý lại văn chơi

Đương cơn đắc ý đọc đã thích

Chè trời nhấp giọng càng tốt hơi.”

Đoạn thơ này tác giả đã sử dụng biện pháp liệt kê “hết”, “lại” thể hiện giọng thơ phấn khởi, nhiệt tình và hào hứng của Tản Đà.

“Những áng văn con in cả rồi

Hai quyển “Khối tìng” văn thuyết lý

Hai “Khối tình” con làvăn chơi

“Thần tiền”, “Giấc mộng” văn tiểu thuyết

“Đài gương”, “Lên sáu” văn vị đời

Quyển “Đàn bà Tàu” lối văn dịch

Đến quyển “Lên tám” nay là mười

Nhờ Trời văn con còn bán được

Chử biết con in ra mấy mươi?””

Tác giả sử dụng biện pháp liệt kê, thể hiện được tài năng tài hoa của mình, biểu hiện là ông kể hết quyển sách này đến quyển sách khác, ở nhiều tác phẩm khác nhau với nhiều phong khác khác nhau như văn chơi, văn tiểu thuyết, văn chơi, văn dịch,…

Cái tôi lãng mạn của ông được thể hiện rất rõ ở giấc mơ của ông, giấc mơ được lên trời của người thi sĩ nơi trần gian, muốn kể cho trời nghe về cuộc sông dưới trần gian như thế nào để người hiểu hơn.

“Bẩm Trời, cảnh con thực nghèo khó

Trần gian thước đất cũng không có

Nhờ Trời năm xưa học ít nhiều

Vốn liếng còn một bụng văn đó.

Loading...

Giấy người mực người thuê người in

Mướn cửa hàng người bán phường phố.

Văn chương hạ giới rẻ như bèo

Kiếm được đồng lãi thực rất khó.

Kiếm được thời ít, tiêu thời nhiều

Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu.

Lo ăn lo mặc hết ngày tháng

Học ngày một kém tuổi ngày cao

Sức trong non yếu ngoài chen rấp

Một cây che chống bốn năm chiều.

Trời lại sai con việc nặng quá

Biết làm có được mà dám theo”.

Tản Đà đã tâm sự về cuộc sống nghèo khó của người thi sĩ dưới trần gian, bên cạnh việc phô diễn tài năng, Tản Đà còn gửi gắm cả tâm sự của mình, qua đó để thể hiện của người nghệ sĩ đó là được khẳng định tài năng của mình, muốn tài năng của mình được mọi người chấp nhận, cùng đồng cảm và chia sẻ cùng ông về văn thơ cũng như tâm sự đời thường mà ông và mọi người đang cảm thấy bất lực, bí bách, không lối thoát. Tác giả lên trời để phô thơ, phô diễn tài năng và kể về cuộc sống của mình, được mọi người trân trọng giá trị, trân trọng tài năng của mình. Trong giấc mộng lên trời ấy ta thấy rõ cái tôi của Tản Đà, khát vọng về tự do, khát vọng về cõi tri âm và rộng ra đó là khát vọng về một xa hội tự do, lên trời để đọc thơ thể hiện khao khát được khẳng định tài năng của mình, khao khát nghệ thuật được trân trọng, thể hiện được cái tôi nghệ sĩ, bay bổng nhưng cái tôi đó có bay bổng tới đâu, cho dù có cách li với cuộc sống trần thế thì vẫn bắt rễ với cuộc đời này. Thể hiện ông là một con người thật sự có trách nhiệm với đời với văn chương.

Bên cạnh cái tôi lãng mạn thì cái tôi “ngông” cũng được Tản Đà thể hiện rõ trong bài thơ này, qua những hành động và lời này của ông, đó là giấc mơ lên trời để được đọc thơ, để được mọi người công nhận tài năng của mình. Chính Tản Đà tự khen của mình nhưng đó không phải là cái khen vô cơ, vô lý mà điều đó được thể hiện qua việc thơ của ông được trời và trư tiên đồng tình, hết lời khen ngợi:

“Văn dài hơi tốt ra cung mây!

Trời nghe, Trời cũng lấy làm hay,

Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi

Hằng Nga, Chúc Nữ chau đôi mày”

Thơ ông được trời khen hay:

“Văn đã giàu thay, lại lắm lối

Trời nghe Trời cũng bật buồn cười!

Chư tiên ao ước tranh nhau dặn:

– “Anh gánh lên đây bán chợ Trời!”

Trời lại phê cho: “Văn thật tuyệt!

Văn trần được thế chắc có ít!

Nhời văn chuốt đẹp như sao băng!

Khí văn hùng mạnh như mây chuyển!

Êm như gió thoảng! Tinh như sương!

Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết!

Chẳng hay văn sĩ tên họ gì?

Người ở phương nào, ta chưa biết”.

Đây là những câu thơ trời khen tác giả, nhưng sự thật là chính tác giả khen mình, tác giả sử dụng biện pháp so sánh để khen ngợi vẻ đep, sự tinh túy của đất trời và sự vật nhưng thực chất là tự khen mình.

Tản Đà cho rằng việc sáng tác thơ ca của ông là ông đang gánh vác trách nhiệm của nhân loại, qua đó cho thấy được ý thức trách nhiệm của nhà thơ đối với cuộc đời, điều đó cũng chính là những bộc bạch của ông, ông đã ý thức được giá trị thơ văn của mình trong cuộc đời này để cuộc đời càng trở nên đẹp và có ý nghĩa hơn. Bởi ông biết rằng văn chương thời đó thì rẻ như bèo, cuộc sống của những người thi sĩ lại vô cùng nghèo khó nhưng ông đã dũng cảm dùng văn chương của mình để kiếm sống và làm đẹp cho đời. thể hiện một cái tôi bản lĩnh.

Cái ngông chính là cá tính của con người được biểu hiện qua lời nói, hành động, cử chỉ và thái độ sống. Với giọng điệu và ngôn ngữ rất tự nhiên, rất phong túng với một loạt cảm thán kiểu trầm trồ, thán phục, tự đề cao tài năng của mình, ông xem mình như là người của trời, là con trời được phái xuống trần gian đề truyền bá những cái hay, cái đẹp cho đời, tự ý thức sâu sắc về bản thân, về tài năng, phẩm chất, giá trị tài năng đích thực của mình.

Tản Đà mạnh dạn thể hiện tài năng bản ngã: cái tôi cá nhân, một cái tôi phóng túng, tự ý thức về tài năng, giá trị đích thực của mình và khao khát được khẳng định mình giữa cuộc đời, cái ngông của tác giả chính là vẻ đẹp thực sự của một con người có tài năng và bản lĩnh cứng cỏi. Có thể nói, có tài năng như thế ông xứng đáng nhận được cuộc sống sung túc hơn nhưng ông lại chấp nhận dám sống bằng tài năng, do vậy trong cuộc đời của ông ông sống một cuộc sống vô cùng nghèo khổ.

Qua câu chuyện “hầu trời” tác giả đã thể bản ngã, cái tôi cá nhân, hiếm có, đáng trân trọng, sáng tạo nghệ thuật mới mẻ và đặc sắc. “Hầu trời” chính là minh chứng cho sự ra đời và phát triển văn học, thơ Tản Đà là gạch nối giữa hai thế kỉ văn học hiện đại và trung đại ở các tín hiệu nghệ và cảm xúc của cái tôi.