Phân tích bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu- Văn 12

Phân tích bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu- Văn 12
Đánh giá bài viết

Đề bài: Em hãy phân tích bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu.

Loading...

Có thể thấy những bài thơ lớn của Tố Hữu đều sáng tác vào những điểm mốc của lịch sử cách mạng Việt Nam. Bài thơ “Việt Bắc” được xem là kiệt tác của Tố Hữu cúng được sáng tác trong một thời điểm trọng đại của đất nước. Vào năm 1954, khi mà cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của toàn dân tộc Việt Nam ta đã thắng lợi, hoà bình được lập lại. Lúc này thì chủ tịch Hồ Chí Minh, trung ương Đảng, cán bộ, và bộ đội rời Việt Bắc trở về Thủ đô Hà Nội. Có thể thấy trong không khí chia tay đầy nhớ thương sự lưu luyến giữa nhân dân Việt Bắc và đó là cả những người cán bộ cách mạng, nhà thơ đã thật xúc động Tố Hữu và sáng tác bài thơ “Việt Bắc”. Có thể thấy được với tầm nhìn của một nhà thơ cách mạng, và cũng là một nhà tư tưởng, Tố Hữu như đã phản ánh sâu sắc hiện thực kháng chiến mười lăm năm của Việt Bắc và như cũng đàn dự báo những diễn biến tư tưởng trong hoà bình.

Ta có thể thấy rằng đoạn trích bài thơ “Việt Bắc” dường như đã miêu tả cuộc chia li đầy thương nhớ lưu luyến giữa Việt Bắc và cả những người cán bộ kháng chiến như đã gợi lại những kỉ niệm kháng chiến anh hùng mà biết bao tình nghĩa.

Tác giả dường như cũng đã chọn thể thơ lục bát và lối hát đối đáp như trong ca dao dân ca và hình tượng hoá Việt Bắc và cả những con người cán bộ kháng chiến là Ta – Mình. Có thể thấy cuộc chia li giữa nhân dân Việt Bắc và những người chiến sĩ cách mạng như chính là cuộc chia tay của một đôi bạn tình đầy bịn rịn, nhớ nhung, lưu luyến.

Mở đầu của bài thơ đặc sắc này chính là lời của Việt Bắc. Để cho Việt Bắc – là lời người ở lại – mở lời trước là rất tế nhị, vì trong khi chia tay thì người ở lại thường không yên lòng đối với người ra đi

“Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”

Dường như ở bài thơ “Việt Bắc” có hai giai điệu chính. Câu thơ mở đầu đó là “Mình về mình có nhớ ta” như là một giai điệu chính thứ nhất. Câu thơ dường như cũng mới đọc thoáng qua tưởng không có gì nhưng sâu sắc lắm. Một trăm cặp tình nhân chia tay cũng đều nói lời này. Tố Hữu thật tài tình khi đã mượn màu sắc của tình yêu mà phô diễn tình cảm cách mạng.

Đại từ được sử dụng rất hấp dẫn “Mình” và “Ta’ như đã đứng ở hai đầu câu thơ, đã thấy xa cách biết bao. Và cat từ “nhớ” cũng đã được điệp lại ba lần đã tạo ra âm hưởng chủ đạo của bài thơ như đầy những sự lưu luyến, nhớ thường, ân tình ân nghĩa.

Người về dường những cũng lặng đi trước những câu hỏi nặng tình nặng nghĩa của Việt Bắc:

“Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”

Việt Bắc lại hỏi:

“Mình đi, có nhớ những ngày

Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù

Mình về, có nhớ chiến khu

Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?”

Và để như cho Việt Bắc hỏi là một cách nhà thơ cũng đã khơi gợi lại những ngày kháng chiến gian khổ. Chỉ với một vài hình ảnh như “mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù” như đã nói lên được khung cảnh rừng núi hiện lên ảm đạm trong những ngày đầu kháng chiến. “Mình’ và ‘Ta’ dường như cũng đã từng chịu chung gian khổ với cảnh “miếng cơm chấm muối”, và cũng đã cùng chung lưng đấu cật để chống kẻ thù chung “mối thù nặng vai”.

Vẫn còn là lời hỏi của Việt Bắc, nhưng tứ thơ chuyển như sau:

“Mình về, rừng núi nhớ ai

Trám bùi để rụng, măng mai để già.

Mình đi, có nhớ những nhà

Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son”

Sử dụng biện pháp tu từ nhân hoá “rừng núi nhớ ai” như cũng đã nói lên tình cảm thắm thiết của Việt Bắc với những người kháng chiến. Khi mà mình về thì núi rừng Việt Bắc trống vắng biết nhường nào “Trám bùi để rụng, măng mai để già”. Quả trám (trám xanh và trám đen) là một trong những loại quả đặc trưng cho núi rừng Việt Bắc và măng mai chínhlà hai món ăn thường nhật của bộ đội và cán bộ kháng chiến. Tác giả như đã mượn cái thừa để nói cái thiếu, thật hay. Có thể thấy chính những hình thức đối lập giữa cái bên ngoài (hắt hiu lau xám) và bên trong (đậm đà lòng son) dường như cũng đã biểu hiện chân thật cuộc sống lam lũ, nghèo đói của người dân Việt Bắc, nhưng trong lòng thì thuỷ chung son sắt với cách mạng.

Cuối lời Việt Bắc hỏi người về rằng:

“Mình đi, mình có nhớ mình

Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?”

Thật dễ nhận thấy giai điệu chính thứ hai của bài thơ xuất hiện: “Mình đi, mình có nhớ mình”. Nếu như là giai điệu một là đạo lí của dân tộc với tư tưởng ân nghĩa thì giai điệu hai là cách mạng. Việt Bắc cũng như đã nhắn nhủ với người về là chẳng những “nhớ ta” mà còn phải “nhớ mình’, nói theo ngôn từ của tình yêu thì đây có thể thấy chẳng những phải “nhớ em” mà còn phải “nhớ anh” nữa. Cái “anh” mà hồi ở với em. Mình cũng như đã sống với Ta mười lăm năm, tình nghĩa biết bao nhiêu, anh hùng biết mấy. Và như “Mình” với “Ta” cũng đã viết lên những trang sử oai hùng của dân tộc “Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa”. Cho nên khi bây giờ xa cách, Mình về thành thị, nhớ đừng thay lòng đổi dại với Ta, mà cũng đừng thay lòng đổi dạ với chính mình:

Loading...

“Mình về thành thị xa xôi

Nhà cao, còn thấy núi đồi nữa chăng?

Phố đông, còn nhớ bản làng

Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng?”

Cũng như để cho Việt Bắc ướm hỏi dè chừng như vậy là một cách khéo léo nhà thơ Tố Hữu dường như cũng đã dự báo những diễn biến tư tưởng trong hoà bình.

“Mình đi, mình có nhớ mình”

Đây có thể coi là câu thơ hay nhất của bài thơ “Việt Bắc” mà cũng là một sáng tạo tuyệt vời của Tố Hữu!

Khi mà đã đón hết những lời ân tình ân nghĩa của Việt Bắc, bây giờ thì đã đến lúc người về mới mở lời. Lời người về cũng chí tình chí nghĩa:

“Ta với mình, mình với ta

Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh,

Mình đi, mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu…”

Ta có thể thấy hai đại từ Ta – Mình cứ xoắn xuýt, quấn quýt “Ta với mình, mình với ta” thật là nồng nàn. Dường như ý nghĩa lại không rạch ròi để rồi nhập lại làm một:

“Mình đi, mình lại nhớ mình”

(Trả lời cho câu hỏi: “Mình về mình có nhớ ta”)

Ta như có thể cảm nhận thấy để diễn ra ngôn ngữ của tình yêu là “Anh đi anh lại nhớ em”. Và ngay cả nỗi nhớ của người đi cũng thật là dào dạt, nghĩa tình của người đi đối với Việt Bắc thật là bất tận biết boa nhiêu“Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu”. Người đi trả lời như vậy hẳn làm yên lòng người ở lại – Việt Bắc.

 

Như vậy, đây chính là những biến tấu của giai điệu một đã hình thành và mở rộng đến vô cùng. Tất nhiên, đấy cũng chỉ được coi là một thủ pháp để nhà thơ miêu tả mối quan hệ khăng khít giữa Việt Bắc và cách mạng mà thôi, miêu tả lại bản anh hùng ca kháng chiến của quân dân Việt Bắc.

Để xua tan đi mọi sự hoài nghi của người ở lại, người về đã như phải nói những lời thật nồng thắm, phải so sánh với những tình cảm cao quý nhất của con người:

“Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương”

Từ “nhớ” như đã được điệp lại trùng trùng và mỗi từ lại gợi lên không biết bao nhiêu kỉ niệm thân thương giữa Ta với Mình. Có thể thấy những chi tiết nhỏ nhặt đã được hồi tưởng (mà cái nhỏ trong tình yêu chính là cái lớn).

“Thương nhau, chia củ sắn lùi

Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”

Con người Việt Bắc trong lòng người về mới đáng yêu đáng quý làm sao:

“Nhớ người mẹ nắng cháy lưng

Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô.”

Một tiếng mõ trâu giữa rừng chiều thôi hay là một tiếng chày đêm ngoài suối âm vang mãi trong lòng người ra về rồi.

“Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

Chày đêm nện cối đều đều suối xa…”

Nói tóm gọn lại là khi người về nhớ thiên nhiên Việt Bắc tươi đẹp, thơ mộng hữu tình và cả là nỗi nhớ con người Việt Bắc giản dị, tình nghĩa, thủy chung.

Từ giọng điệu anh hùng ca có thể thấy trong cuộc kháng chiến anh hùng của “Ta’ và “Mình’ cũng như đã được tái hiện trong hòai niệm của người về:

“Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây

Núi giăng thành lũy sắt dày

Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù.”

Có thể nhận thấy thiên nhiên Việt Bắc như có linh hồn là nhờ tác giả sử dụng phép nhân hóa. Núi rừng Việt Bắc dường như cũng trở lên tươi đẹp đã trở thành lũy sắt bảo vệ và che chở cho bộ đội. “vây”, “đánh” quân thù. Và trong mỗi một tên núi, tên sông, tên phố, tên bản là một chiến công lừng lẫy của quân và dân Việt Bắc. Và rồi trong cả những đêm hành quân, những đoàn dân công, những đòan xe vận tải tấp nập sôi động:

“Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như là đất rung

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.

Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.”

Tác giả dường như lại đã chuyển sang giọng điệu thơ trang trọng, thiêng liêng để diễn tả nỗi nhớ của người về đối với Trung ương Chính phủ – Cụ Hồ. Và ta có thể nhận thấy chính những hình ảnh của Việt Bắc trong trí nhớ của người về là quê hương cách mạng, là căn cứ địa kháng chiến, lừ niềm tin là hi vọng của cả dân tộc.

Người về, dường như cũng không thể nào mà quên trả lời câu hỏi gay cấn của Việt Bắc:

“Mình về mình lại nhớ ta

Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào”

(Trả lời cho câu hỏi “Mình đi mình có nhớ mình”)

Điều này có nghĩa là người về cũng như muốn nhắn nhủ với Việt Bắc là dù xa cách dù về thành thị xa xôi thì người các bộ kháng chiến năm xưa vẫn luôn luôn giữ gìn và phát huy phẩm chất tốt đẹp của người cán bộ cách mạng.

Có như vậy là với biến tấu của giai điệu hay và trữ tình, tác giả Tố Hữu như đã khép lại phần một của bài thơ”Việt Bắc”. Và chủ đề chung thủy – chung thủy với cách mạng của bài thơ “Việt Bắc” đã đạt đến độ sâu sắc ngay trong phần một này.

“Việt Bắc” chính là một kiệt tác của Tố Hữu mà dường như cũng là kiệt tác của thơ ca cách mạng, thơ ca kháng chiến. Bài thơ như đã thể hiện tài hoa nhiều mặt của nhà thơ Tố Hữu. Cùng với thể thơ lục bát được tác giả phô diễn những tình cảm, tư tưởng mới mà vẫn đậm đà bản sắc dân tộc. Và dễ nhận thấy với lối hát đối đáp tạo ra giai điệu phong phú cho bài thơ sẽ còn sức kay động lòng người

Nguồn: Văn mẫu hay