Phân tích bi kịch của nhân vật Hộ trong Đời thừa của Nam Cao

Phân tích bi kịch của nhân vật Hộ trong Đời thừa của Nam Cao
Đánh giá bài viết

Đề bài: phân tích bi kịch của nhân vật Hộ trong Đời thừa của Nam Cao

Nam Cao trước cách mạng tháng 8, ông đi vào 2 đề tài chủ yếu đó là đề tài về người nông dân và đề tài về người trí thức trong xã hội cũ. Khi viết về đề tài người nông dân thì ông đã hóa thân vào họ để phản ánh những tâm tư tình cảm của họ, còn khi viết về bộ phận tri thức ông không cần phải như thế, bởi ông cũng là người trí thức, ông nắm rõ từng “chân tơ kẽ tóc” của họ, ông lấy chính bản thân để xem xét và so sánh, có thể nói rằng viết về người trí thức là sở trường của ông.

Loading...

“Đời thừa” là một trong những tác phẩm thành công của nhà văn khi viết về người trí thức và nhân vật “Hộ” chính là nhân vật chính, một người tri thức nghèo trong xã hội cũ, cuộc sống của nhân vật như một bi kịch mà những người trí thức muốn thoát khỏi nó cũng khó mà vượt qua được.

Giống như các bài phân tích bi kịch của nhân vật như: Chí Phèo, Chị Dậu,..thì phân tích bi kịch là phân tích mâu thuẫn, xung đột và đi giải quyết cái xung đột ấy là kết thúc bằng đau thương, nỗi buồn là phương pháp để tác giả khắc họa nhân vật.

Nhân vật Hộ tồn tại hai cái bi kịch lớn, đó là bi kịch của một nhà văn, nhà trí thức có hoài bão, có tài năng, muốn sống có ích nhưng cuối cùng lại trở thành vô ích, đời thừa. Niềm say mê văn chương đã trở thành niềm say mê lý tưởng “ đói rét không có ý nghĩa gì đối với gã say mê lý tưởng, lòng hắn đẹp, đầu hắn mang một hoài bão lớn”, “với Hộ nghệ thuật là tất cả, ngoài nghệ thuật không gì đáng quan tâm nữa”, nhưng điều quan trọng là Hộ muốn sống có ích bằng văn chương.

Nam Cao khắc họa nhân vật Hộ của mình khác với các nhà văn đương thời: trong cái suy nghĩ của một bộ phận nhà văn thì viết văn chương là vì văn chương, nghệ thuật chỉ vì nghê thuật, thì nhân vật Hộ này lại khác thì văn chương của mình phải làm sao cho nó có ích vời con người, có ích cho xã hội, mà ông luôn phải đau đáu, băn khoăn suy nghĩ về việc sáng tạo ra một tác phẩm có giá trị, theo Hộ một tác phẩm có giá trị là tác phẩm đó phải chứa cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn vừa phấn khởi, ca tụng lòng thương, bác ái, sự công bằng, nó làm cho người gần người hơn”. Nam cao đã xây dựng nhân vật Hộ là người có khát khao và hoài bão lớn, đó là khát khao giành được giành nô ben về văn học, đó không phải là cái háo danh đời thường của những người muốn nổi tiếng mà là mơ ước, khao khát của một nhà văn tài năng, của nghệ sĩ chân chính, muốn khẳng định tài năng của bản thân mình, khẳng định sự có ích của bản thân đối với xã hội, cuộc đời này bằng những vinh quang chói sáng.

Nhưng đã là bi kịch thì sẽ phải có xung đột và kết thúc nó sẽ phải giải quyết bằng đau thương, buồn đau, một có người có hoài bão, tài năng, muốn sống có ích nhưng thực tế lại không được như thế, chỉ vì một lý do vô cùng đôn giản và đời thường và thậm chí tầm thường với cuộc sống đó là loay hoay với tổ ấm, cơm áo hằng ngày, Hộ có cả một gánh nặng lớn, gánh nặng gia đình phải lo toan vì thế dù là một người có tài năng, hoài bảo như thế nhưng Hộ đành chấp nhận viết những thứ văn rẻ tiền, thứ văn mà chỉ có ý nghĩa chốc lát, trong một thời điểm mà thôi để có thể có tiền lo cho vợ con của mình. Nỗi đau của Hộ không phải là không được viết mà là không được viết như những gì mình từng mơ ước, “toàn những cái vô vị, nhạt nhẽo, gợi những tình cảm rất nhẹ, rất ngông, những tác phẩm của Hộ chẳng mang tới chút mới lạ gì cho văn chương, tác phẩm của Hộ chỉ diễn lại những cái gì rất thông thường, quấy loãng trong một thứ văn ư chi là dễ dàng”, những tác phẩm không có nội dung nào là xuất sắc, hình thức, lời văn có thể là dài, hoặc là bài văn đó có dung lượng lớn những ý nghĩa tư tưởng, nghệ thuật thì không đọng lại gì, không đem đến được cái gì mới mẻ cho văn chương, nghĩa là Hộ trở thành một kẻ vô ích, đời thừa, đặc biệt là Hộ vô ích, đời thường với tất cả, đời thừa với xã hội, đời thường với gia đình và xót xa hơn là Hộ đời thường với chính bản thân mình.

Loading...

Hộ đời thừa với xã hội vì Hộ viết những tác phẩm mà xã hội không cần đến, gợi những tình cảm rất nhẹ, rất nông. Với tư cách của một nhà văn tác phẩm của anh không được xã hội đón nhận, cần đến thì đúng là đời thừa với xã hội.

Hộ đời thừa với gia đình, Hộ là trụ cột của gia đình, là người mang đến niềm vui đối với gia đình, là chỗ dựa cho gia đình mà lại trở thành gánh nặng cho gia đình, cuộc sống tình cảm của gia đình, loay hoay đi kiếm tiền, số tiền mà Hộ viết văn không đủ nuôi sống gia đình, nếu mà một người đàn ông, người cha, người chồng, sau tất cả nhũng gì như thế họ trở về nhà một cách buồn phiền và cay gắt. Hộ trở thành đời thừa cho gia đình, cả về vật chất và tinh thần.

Hộ chính là đời thừa với chính bản thân mình, Hộ đánh mất cả tài năng và đánh rơi cả ra nhân cách “hắn phải cho in nhiều cuốn sách viết vội vàng, hắn phải viết các bài báo mà người đọc rồi quên”, là một nhà văn mà cái tên của mình cũng không lưu lại trong tên của người đọc, bi kịch của Hộ chính là đời thừa của bản thân mình. Không có gì xót xa hơn khi mình lại chán bản thân mình.

Bi kịch thứ hai cũng không kém gì so với bi kịch thứ nhất, một bi kịch tiêu biểu cho người trí thức trong xã hội cũ, bi kịch của một nhà văn, nhà trí thức có nhân cách, có tình thường, coi tình thương là nguyên tắc sống thiêng liêng nhưng cuối cùng lại chà đạp lên tình thương một cách thô bạo.

Bản thân Hộ là một người có tình thương, thể hiện qua mối quan hệ của Hộ và Từ, Hộ biết và đến với Từ khi người đàn bà này bị kẻ bội bạc, bị bỏ rơi, Hộ đã đứng ra nhận là chồng của Từ, là cha của đứa trẻ, Hộ đã cứu vớt cuộc đời Từ mà còn cứu vớt danh dự của Từ, Hộ đã mang đến cho Từ không chỉ là một mái ấm gia đình mà là một mái ấm tình thương, Hộ đến với Từ không phải như một tình nhân đến với tình nhân mà với Từ như một ân nhân cứu vớt nạn nhân, một con người có hành động và cử chỉ cao đẹp như vậy. Hộ lo toan các công việc gia đình, chu đáo chăm sóc người mẹ của Từ, một người mẹ có con gái rơi vào hoàn cảnh éo le không biết làm gì hơn mà khóc đến tận nước mắt và khi người mẹ ấy qua đời Hộ đã lo toan tất cả mọi việc một cách chu đáo.

Còn đối với các con cũng vậy “chỉ xa chúng mấy ngày, Hộ đã thấy nhớ và thấy các con chạy lại reo mừng, nắm lấy áo mình” thường thường Hộ cảm động đến ứa nước mắt, một người cha giàu tình thương và trách nhiệm. Tình thương đối với Hộ là nguyên tắc sống.

Nhưng rồi Hộ rơi vào tình cảnh đáng thương vì Hộ không theo đuổi được ước mơ, hoài bão của mình nên Hộ luôn mang một nỗi sầu, nỗi hận. Tình yêu nghệ thuật của Hộ chưa bao giờ hết, nó âm thầm, dai dẳng mà chỉ cần có cơ hội thì nó có thể bùng lên, nó đánh vào lòng tự trọng của Hộ từ mọi phía, Hộ day dứt, đau khổ vì giấc mộng văn chương không đạt được khi đạm đạo với bạn bè về văn chương, khi nghe được tin một số người thành đạt mà Hộ quen biết thì giấc mộng về nỗi sầu, nỗi hận văn chương đã làm cho Hộ trở nên sầu uất và hành hạ Hộ và nó làm cho Hộ càng đau đớn hơn.

Và đã giải thoát, giải tỏa nỗi đau ấy Hộ tìm đến con đường mà có lẽ người đàn ông nào cũng lựa chọn để giải cứu mình đó là rượu, Hộ tưởng rằng uống rượu vào sẽ xóa tan đi nỗi sầu, nỗi hận đó nhưng hóa ra lại không phải mà rượu lại càng làm bùng lên nỗi hận trong lòng và Hộ đã đi theo con đường của những người tầm thường cả về trí tuệ và nhân cách “ít lâu nay, Hộ không phải ra đi rồi về buồn mà thôi, thường thường thì nó đã ngủ một nửa, nay thì còn ở dọc đường”. Hộ đánh mắng, xua đuổi những người anh em ruột thịt, cách ứng xử của Hộ đối với vợ, với con giờ đây khác đi rất nhiều, Hộ chưa tới mức thành quỷ dữ, nhưng Hộ đang dần xa lánh mọi người, nguyên tắc sống có tình thương của mình. Đó chính là bi kịch đau đớn của người trí thức.

Qua tác phẩm “đời thừa” Nam Cao đã khắc họa một hình tượng nhân vật ở tầng lớp trí thức yêu nghệ thuật, đam mê văn chương, sống và cống hiến cho văn chương, nhưng rồi chỉ vì miếng cơm, manh áo gạo tiền khiến nhân vật Hộ phải bán rẻ nhân cách của mình rồi dần dần trở thành một con người sống mà như người thừa cho xã hội, cho gia đình và cho chính bản thân mình. Từ đó để tác giả muốn lên án, phê phán một xã hội vô nhân đạo đã tước đoạt ý nghĩa cuộc sống, hủy hoại nhân cách, đồng thời cũng khẳng định được niềm say mê của giới nghệ sĩ, thi sĩ lúc bấy giờ về tình yêu nghệ thuật mà cả cuộc đời họ dành cho nó.