Phân tích bi kịch tinh thần của nhân vật Hộ trong truyện ngắn Đời thừa. Qua đó làm rõ tư tưởng nhân đạo độc đáo và mói mẻ của nhà văn lớn Nam Cao.

Phân tích bi kịch tinh thần của nhân vật Hộ trong truyện ngắn Đời thừa. Qua đó làm rõ tư tưởng nhân đạo độc đáo và mói mẻ của nhà văn lớn Nam Cao.
5 (100%) 480 votes

Phân tích bi kịch tinh thần của nhân vật Hộ trong truyện ngắn Đời thừa. Qua đó làm rõ tư tưởng nhân đạo độc đáo và mói mẻ của nhà văn lớn Nam Cao.

Với Truyện Kiều của Nguyễn Du, người đọc gặp bi kịch của kiếp “tài hoa bạc mệnh”, Ở Chí Phèo của Nam Cao, đó là bi kịch của những con người bị tha hóa khát khao lương thiện và cùng với Nam Cao ta gặp ở Đời thừa, tấn bi kịch tinh thần của người trí thức. Đời thừa bộc lộ rõ nét “tư tương nhân đạo mới mẻ độc đáo của nhà văn lớn Nam Cao”.

Loading...

Bi kịch tinh thần của nhân vật Hộ trong Đời thừa là bi kịch cua một nhà văn – một nhà trí thức giữa “cơn dâu bể” cuộc đời, giữa một xã hội “chó đểu” (Vũ Trọng Phụng). Nhà văn ấy đã giữ được phẩm giá của mình, ý thức được “thiên chức” cao cả của mình, vậy mà đành bó tay bất lực.

Có thể nói bi kịch đầu tiên trong tấn bi kịch tinh thần của cuộc đời Hộ là về những giấc mộng văn chương. Hộ đã đặt văn chương lên trên hết: văn chương dường như là khát vọng lớn nhất của anh. Anh muốn trở thành nhà văn chân chính – nhà văn biết mở hồn đón lấy những vang vọng của đời. Anh mơ ước đến một ngày anh sẽ viết được một tác phẩm lớn cho cả loài người. Nó đề cập đến những vấn đề bức xúc của cả xã hội, của cả nhân loại. Nó nói lên được những cái lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn. vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình. Nó làm cho người gần người hơn. Và nhất định anh sẽ giật giải Nô-ben. Đó là cuốn tiểu thuyết vĩ đại trong đời viết văn của anh. Nó sẽ làm rạng danh cho anh, cho nền văn học nước nhà. Đó quả là một ước mơ chính đáng! Nhà văn phải biết xây ước mơ đẹp và khát vọng của Hộ là khát vọng mạnh mẽ nhất và đẹp đẽ nhất. Hộ xác định đúng con đường cho mình, xác định đúng tư tưởng cho mình.

Anh không sa vào những mơ mộng về nghệ thuật – nghệ thuật là ánh trăng huyền ảo (Trăng sáng). Anh thấy ánh trăng của nghệ thuật biết làm đẹp cả những cảnh thật ra chỉ tầm thường xấu xa. Quan điểm của anh đúng đắn lắm! Tư tưởng của anh tiến bộ lắm! Thế nhưng trong sáng tác của mình, anh đã viết những gì? Anh không hướng nghệ thuật vào thứ văn chương của bọn nhàn rỗi; anh không viết để cho nhưng cô gái áo xanh, áo đỏ tha thướt đọc, nhưng anh viết những gì từ khi anh bắt tay vào sáng tác? Chao ôi! Thực tế có phải bao giờ cũng chiều theo khát vọng và đẹp như khát vọng đâu! Anh đã viết những bài mà thậm chí khi đọc thấy tên mình dưới bài viết, anh phải đỏ mặt xấu hổ. Anh giận dữ với chính anh. Anh khinh ghét những tác phẩm chỉ biết gợi những tình cảm rất nhẹ, rất nông trong một thứ văn chương bằng phẳng và quá ư dễ dãi của chính mình. Dường như anh hoảng hốt, ngạc nhiên trước những bài viết mình mới cho ra đời. Anh dằn vặt ghê gớm. Anh muốn nhưng có phải bao giờ ý muốn cũng thành hiện thực đâu! Và đó chính là cái bi kịch của anh – bi kịch của một đời viết văn – bi kịch của người hiểu mình, biết mình phải làm gì và đành viết theo những điều mình chẳng hề muốn. Ta cảm thấy cái đau đớn khủng khiếp tự chốn sâu thẳm của tâm hồn anh. Một cái gì đó bỗng chốc sụp đổ trong anh. Đây chính là sự sụp đổ của một khát vọng đẹp và chân chính.

Anh phải viết ẩu như thế, bôi bác như thế cũng chính vì những ràng buộc của “áo cơm”. Chao ôi! Giá như anh được bay nhảy với những giấc mơ ấy!.

Nhưng cơm áo không đùa với khách thơ (Xuân Diệu). Anh còn người vợ yếu và một đàn con nhỏ. Kiếp người với bao toan tính bộn bề níu kéo anh, không cho anh bay lên cùng giấc mộng của đời trai trẻ. Chính nỗi lo về vật chất đã buộc anh phải viết những bài trái với lương tâm và trách nhiệm. Trong đầu anh luôn quay cuồng những tính toán về giá cả sinh hoạt, về bữa ăn hàng ngày… thì đâu còn chỗ cho văn chương nữa. Anh phải viết thật nhanh, thật nhiều, để vợ anh, con anh và chính anh khỏi đói. Giá như anh cứ dứt bỏ cái mộng văn chương thì chắc đời anh chẳng khốn đốn đến thế!. Nhưng anh phải nghĩ tới tác phẩm của anh, các tác phẩm cho toàn nhân loại nên anh càng đau đớn! Nước mắt anh không chảy nhưng đớn đau thì chồng chất. Chao ôi! Đau đớn thay cho những kiếp sống muốn cất cánh bay cao nhưng lại bị áo cơm ghì sát đất (Sống mòn). Đó chính là bi kịch của cuộc đời viết văn của anh, bi kịch của những giấc mộng văn chương ấy chính là điều day dứt trong anh mãi không thôi.

Phải có những hiểu biết sâu sắc về tâm tư tình cảm của con người thì Nam Cao mới viết được những dòng đầy cảm xúc như thế!. Dường như những day dứt trong cuộc đời ông – cuộc đời văn sĩ khổ ải – đã nhập vào những suy tư của Hộ, đã đi vào tấn bi kịch tinh thần của Hộ. Có người nói Hộ chính là hình ảnh của nhà văn Nam Cao thời kì trước Cách mạng. Ta không hoàn toàn nghĩ thế. Nam Cao đã có thể bị cơm áo ghì chặt nhưng Nam Cao hơn hẳn Hộ, ông đã biết vươn lên trên những lo toan ấy để biến giấc mơ thành hiện thực. Ông đã viết những lời văn hay nhất, đẹp nhất về cuộc đời những kiếp lầm than và chắc chắn Nam Cao không phải đỏ mặt khi thấy tên mình sau những tác phẩm như Chí Phèo, Đời thừa… Bởi đó chính là giấc mơ văn chương nảy nở. Có thể nói với Đời thừa. Nam Cao đã bộc lộ được tư tưởng nhân đạo mới mẻ, độc đáo của mình khi viết những dòng bi kịch về Hộ. Kinh nghiệm và vốn sống đã cho ông viết những điều có sức rung động, lay chuyển lòng người đến thế!. Đó chính là nhờ tư tưởng nhân đạo mới mẻ, độc đáo của nhà văn Nam Cao. Nhân đạo ở sự ca ngợi khát vọng đẹp đẽ của Hộ, nhân đạo ở sự cảm thông sâu sắc với người tri thức… Qua bi kịch tinh thần đầu tiên này của Hộ. Nam Cao đã bộc lộ được sự cảm thông, trân trọng bao kiếp người lao khổ trong cuộc dời này, Phải chăng tư tưởng ấy đã kế thừa được lòng nhân đạo truyền thống của cha ông. Nhà văn không “phản ánh để phản ánh” mà sau những câu chữ tưởng như lãnh đạm, thờ ơ lại là một trái tim nhiệt thành, sôi nổi, một trái tim của tình nghĩa.

Loading...

Bi kịch đầu tiên của cuộc đời nhà văn Hộ và đó cũng là nguyên nhân cho bi kịch thứ hai, chính là bi kịch của một con người. Giấc mộng văn chương sụp đổ qua những bài viết cẩu thả của anh. Thế nhưng Hộ vẫn còn chút an ủi. Đó chính là cuộc sống, sự tồn tại của vợ con anh. Anh chưa thực hiện dược khát vọng của mình, anh chưa viết được cuốn tiếu thuyết của đời anh, nhưng anh nuôi được vợ con. Anh đã kéo dài được sự tồn tại của gia đình mình. Và điều đó có thể coi là việc làm hữu ích. Đó là cái an ủi cho cái “đời thừa” của một nhà văn. Thế cũng đáng an ủi lắm chứ!.

Vì anh là người đặt tình thương lên hàng đầu lẽ sống của anh là tình thương, tình thương là trên hết. Chính trong lời khẳng định về tác phẩm trong tương lai của mình, anh đã nói: tác phẩm có giá trị là tác phẩm ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình. Trong văn chương, anh muốn ca ngợi tình thương và trong cuộc đời thực, tình thương là tất cả. Chính vì lẽ sống tình thương của mình, anh đã đón Từ, giúp Từ thoát khỏi những tủi nhục khi một mình trơ trọi với đứa con không cha. Nhừng giọt nước mắt của Từ và của bà mẹ già của Từ đã khiên anh xúc động. Họ muốn khóc cho đến khi bao nhiêu xương thịt cứ tun ra thành nước mắt. Từ gặp Hộ, tình yêu thương của anh đã tỏa rạng, giúp Từ thoát khỏi những đớn đau. Một người dám bơ cái đời bay nhảy của tuổi xanh để nuôi nấng vợ con chẳng là người dũng cảm lắm sao?. Chính tình thương đã khiến anh làm việc ấy. Anh cao đẹp quá! Bởi anh không phải là “đời thừa” với gia đình nho nhỏ của anh. Anh đau khổ vì cái tên anh cứ lu mờ dần sau những tên khác mới xuất hiện rực rỡ, nhưng với Từ và đàn con, anh là biểu tượng sáng chói của tình thương. Tình thương ấy rất đáng trân trọng. Trong một xã hội rác rưởi như thế, hành động của anh chẳng là một hành động tốt đẹp hiếm hoi hay sao? Thế nhưng, anh cũng chẳng giữ được trọn vẹn cái lẽ sống cao quý ấy của mình nữa. Quả là một sai lầm khi anh có lúc đã kết luận: nguyên nhân trực tiếp cho sự sụp đổ giấc mộng văn chương chính là vợ anh và đàn con nheo nhóc kia. Anh cạn nghĩ quá! Đó không phải hoàn toàn do lỗi của vợ con anh. Thất vọng trong văn chương, buồn chán trong không khí gia đình đã khiến anh tìm niềm vui trong men rượu. Anh muốn quên, quên đi tất cả.

Anh không say trong men rượu. Chính anh cũng không hiểu tại sao anh được về đến nhà. Anh chỉ biết anh đã tỉnh dậy trên giường nhà mình khi tay chân rã rời. Men rượu “chết tiệt” ấy chính là cái nguyên nhân trực tiếp làm cho bi kịch trong anh xuất hiện. Rượu đánh đồng những người xấu, người tốt, kẻ giàu, người nghèo trong những cơn say. Khi say, ai cùng như ai hết! Men rượu đã khiến anh trở thành một kẻ tiểu nhân vô học. Anh đã vi phạm đạo đức, lẽ sống, tình thương của mình. Anh đã đánh vợ con như một kẻ vũ phu. Vâng, chính lúc đó, anh là kẻ vũ phu. Anh đã hành hạ người vợ hiền lành tận tụy cua mình. Anh chỉ mặt Từ mà quát mắng: “Cả con mẹ nữa… cũng đáng vật một nhát cho chết nốt”. Anh đã làm tất cả, tất cả trong cơn say. Sao mà tai hại quá! Anh đã vi phạm lẽ sống của mình, vi phạm cái tốt đẹp – cái phần “con người”. Lẽ sống ấy đã bị anh chà đạp. Anh coi cuộc đời anh là “đời thừa”. Bi kịch đầu tiên là bi kịch của giấc mộng văn chương nên cái “thừa” còn không quá đau đớn như bi kịch này, bi kịch mà kết cục là cái “thừa” của anh đã được thể hiện đầy đủ. Đó là bi kịch tinh thần của con người ý thức được phẩm giá, nhân cách của mình! Bi bi kịch trước, cái mặc.cảm tội lỗi trong anh rất lớn vì anh là một nhà văn. Nếu Chí Phèo chỉ gieo rắc tội lỗi của hắn cho dân làng Vũ Đại, anh giáo Thứ chỉ truyền thụ sự chán nản lên đầu học sinh thì Hộ gieo những tình cảm rất nhẹ rất nông, những tình cảm qua ư tầm thường cho bao nhiêu độc giả. Bi kịch cua một người mặc cảm tội lỗi còn lớn hơn nhiều. Với tư cách của một nhà văn, anh đã gây ảnh hưởng đến người đọc từ những bài văn viết chỉ để lấy lợi nhuận. Rồi bây giờ, với tư cách của một con người, anh đã phá hỏng nốt cái tốt đẹp trong mình. Lẽ sống tình thương là cái được anh đề cao nhất mà anh còn vi phạm thì chẳng còn gì nữa. Bi kịch này đau đớn gấp bội bi kịch kia, bởi lẽ sống tình thương là chỗ dựa của bao giá trị khác.

Bi kịch này khủng khiếp và hoàn toàn không có lối thoát. Dường như nó bao trùm thành bi kịch của cả đời anh. Tuy vậy cũng cần nói thêm ràng, bi kịch ấy có nguyên nhân sâu xa chính từ xã hội đương thời. Nỗi lo sinh kế đã khiến anh phải từ bỏ giấc mộng văn chương. Chính những thất vọng ấy đã khiến anh chà đạp lên lẽ sống tình thương của mình. Anh chưa tìm được lối thoát cho sự bế tắc chung của thời đại mà anh đang sống.

Đó phải chăng là nét hạn chế trong tư tưởng nhân đạo của Nam Cao? Ông biết đề cao những khát vọng đẹp của người trí thức, đã biết thông cảm với những nỗi khổ của họ, nhưng chưa đề ra được lối thoát cho họ. Dù sao, “những tư tưởng nhân đạo mới mẻ, độc đáo” ấy thật đáng quý, đáng trân trọng! Độc đáo, mới mẻ chính là ở lòng thương người, tình người nồng đượm bao la đằng sau lối viết văn tưởng như dửng dưng lãnh đạm.

Ngày nay cuộc đời đã được đổi thay, không còn những bi kịch tinh thần như Hộ nữa. Nhà văn ngày càng được ưu đãi hơn. Đời thừa giúp chúng ta không quên thời kì mà người tri thức văn nghệ sĩ đã phải mang những bi kịch tinh thần.

Tư tưởng nhân đạo mới mẻ độc đáo của Nam Cao đã khiến cho nhân vật của ông vượt qua bao thăng trầm vẫn xứng đáng với tư cách một con người chân chính.